Khám phá đặc điểm các loại bao bì: Quy trình sản xuất và ứng dụng

Bao bì không chỉ đơn thuần là lớp vỏ bảo vệ sản phẩm, mà còn là cầu nối giữa thương hiệu và người tiêu dùng. Việc hiểu rõ về các loại bao bì, quy trình sản xuất và ứng dụng của chúng giúp chúng ta đánh giá đúng tầm quan trọng và vai trò của bao bì trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị sản phẩm. Hãy cùng khám phá đặc điểm các loại bao bì, từ chất liệu, quy trình sản xuất đến các ứng dụng cụ thể trong từng ngành hàng.

1. Bao bì mềm

Bao bì chất dẻo, làm từ nhựa dẻo, được tạo ra từ hạt nhựa để sản xuất màng nhựa cho bao bì mềm. Bao bì mềm thường được chọn là bao bì cấp 1, dùng cho việc đóng gói các sản phẩm thực phẩm, dược phẩm, và các sản phẩm dạng bột, kem, lỏng…

Bao bì mềm có thể làm từ màng đơn, nhưng vì yêu cầu cao về tính chất hóa lý, phần lớn bao bì mềm hiện nay sử dụng màng ghép phức hợp. Màng ghép phức hợp có ưu điểm nổi bật là kết hợp các tính chất hóa lý của nhiều lớp màng, đáp ứng đa dạng các yêu cầu khắt khe mà một màng đơn không thể đáp ứng được.

Bao bì mềm có thể được giao cho khách hàng dưới dạng cuộn hoặc túi. Với bao bì dạng cuộn, toàn bộ quy trình định hình túi, đóng gói và hàn túi được thực hiện trên dây chuyền đóng gói tại doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Với bao bì dạng túi, quá trình định hình và hàn dán được tiến hành tại doanh nghiệp sản xuất bao bì. Các loại túi thông dụng bao gồm: túi hàn dán ba biên, túi hàn lưng và hàn chân đầu, túi hàn lưng xếp hông, túi đứng, và túi có khóa kéo (zipper).

Túi hàn dán ba biên và hàn lựng hàn chân đầu thường sử dụng cho các dạng bao bì thực phẩm, có thể tích nhỏ như: bánh kẹo, mì gói, các dạng thực phẩm tươi sống, bột nêm (hình 2.1; 2.2 và 2.3)… Với sản phẩm hàng tiêu dùng có thể tích lớn hơn như khăn giấy, tã lót, băng vệ sinh, xà phòng bột … thường sử dụng bao bì hàn lưng, hàn chân đầu có xếp hông tạo khoảng trống để tăng thể tích chứa của bao bì (hình 2.4). Các dạng túi đứng thường sử dụng cho việc đóng gói các sản phẩm lỏng hoặc dạng kem do khả năng đứng được trên mặt phẳng của túi (hình 2.5)

Túi zipper là loại túi có khóa thường được hàn ở miệng túi, các khóa này hỗ trợ đóng kín lại sau khi đã cắt miệng túi (hình 2.6)

Ngoài ra, để hỗ trợ các tính năng khác như: để dễ mở – người ta tạo các đường hỗ trợ xé; đề có thể đóng mở nhiêu lần – sử dụng thêm nắp vặn, nhãn dán…; để đo lường khối lượng, thể tích sản phẩm bên trong khi đóng gói và khi sử dụng – chia vạch trên chai, đóng gói kèm các dụng cụ đo lường, đo lường bằng nắp đậy. Quy trình sản xuất bao bì mềm bao gồm các công đoạn chủ yếu: thiết kế bao bì, sản xuất màng, chế bản, in, ghép màng và thành phẩm túi (định hình, hàn túi). Quy trình này sẽ được trình bày cụ thể ở một bài viết chuyên sâu khác.

2. Bao bì hộp từ giấy bìa

Là bao bì dạng hộp được sản xuất từ giấy bìa (giấy có định lượng lớn hơn 160 g/m2). Hộp bao gồm một hay nhiều mảnh được cấn và bế. Các đường bế tạo đường viền mảnh hộp, các đường cấn tạo đường nếp để gấp hộp, các mảnh bế sau đó có thể được gấp và dán. Các hộp sau khi gấp dán được lưu trữ và vận chuyển đến khách hàng ở thể phẳng, sau đó được dựng thành hộp trong quá trình đóng gói.

Các mảnh bế là các mảnh phẳng có các đường viền được cắt theo hình dạng trải phẳng của hộp. Các đường phân cách giữa các diện của hộp là các đường cấn có nhiệm vụ tạo nếp gấp, các đường này là cơ sở cho việc dựng hộp từ khổ phẳng sang không gian ba chiều.

Do tính dễ vận chuyển, lưu trữ nên các dạng hộp hình hộp chữ nhật được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp và cuộc sống. Ngoài bao bì dạng hình hộp chữ nhật, với đặc tính dễ định hình của giấy bìa và khả năng linh hoạt của quá trình cần bế, và yêu cầu hấp dẫn người tiêu dùng, bao bì hộp từ giấy bìa có rất nhiều hình dạng khác nhau.

Các mẫu hộp khá phong phú, từ những dạng hộp cơ bản có thân là hình hộp chữ nhật với nắp (đáy) dán đơn giản thuận tiện khi đóng gói trên dây chuyền tự động, đến các kiểu hộp có thân là những hình đặc biệt như lăng trụ đáy lục giác, bát giác hay hình chóp, chóp cụt với các kiểu nắp cài xoắn đặc biệt tạo hình như những bông hoa từ các dạng hộp có dạng trụ ống đến các dạng hộp dạng khay nông. Để tạo thuận tiện cho việc lựa chọn kiểu dáng bao bì hộp, trong quá trình phát triển hệ thống bao bì cần tham khảo các bộ thư viện về kiểu dáng bao bì.

Bao bì hộp giấy bìa không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn đáp ứng nhiều nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, từ việc bảo quản sản phẩm tốt hơn đến việc nâng cao giá trị và trải nghiệm của sản phẩm. Việc lựa chọn đúng loại bao bì sẽ góp phần quan trọng vào thành công của sản phẩm trên thị trường

Một trong những thư viện mẫu hộp được sử dụng thông dụng nhất là European Carton Makers Association code book. Đây là thư viện các mẫu hộp đã được ECMA thu thập, phân nhóm và mã hóa.

ECMA code book đã mã hóa các dạng hộp cơ bản theo các nhóm như sau:

  • A – Các dạng hộp hình hộp chữ nhật, được dán nối ở cạnh hông, các mặt hộp kế cạnh nhau nằm trên những mặt phẳng vuông góc với nhau.
  • B – Các dạng hộp hình hộp chữ nhật không có các môi dán hông, dạng khay. Việc ghép nối các cạnh được hình thành bởi các kiểu gài khác nhau, hoặc dán ở góc.
  • C – Các dạng hộp không phải là hình hộp chữ nhật, được dán nối ở cạnh hông, một số mặt của hộp không phải là hình chữ nhật, có thể tạo với mặt hộp chính một góc nhọn hoặc tù.
  • D – Các dạng hộp không phải hình hộp chữ nhật, không có các mối dán hông, dạng khay. Việc ghép nối các cạnh được hình thành bởi các kiểu gài khác nhau, hoặc dán ở góc
  • E – Đây là những dạng hộp dành để đóng gói một nhóm sản phẩm: như một lốc bia, một chục trứng…
  • F – Các dạng hộp có cấu trúc đặc biệt không nằm trong nhóm từ A-E

Các dạng hộp nhóm A

Các dạng hộp nhóm A còn được gọi là tube style. Các dạng hộp này đều được dán hông trên thiết bị gấp dán tự động theo sơ đồ hình 2.13, keo được bôi ở tai dán ở mặt in, sau đó hộp được gấp theo đường gấp thứ 2 và thứ 4 của hộp, hộp được ép và dán mí hông với nhau (hình 2.13, hình 2.20)

Cách dán hông này ứng dụng để dán hông hộp cho các dạng hộp hình trụ khác có đáy là hình lục giác, bát giác… (hình 2.14)

Trong mỗi nhóm hộp, các dạng hộp được phân loại nhỏ hơn theo đặc điểm của các hình dạng nắp, hình dạng đáy hộp, kiểu gài nắp, kiểu cài đáy….tương ứng với các đặc điểm này là công năng tăng thêm, các phương án cấn bế, dán hộp và đựng hộp, đóng nắp hộp khi đóng gói bao bì.

Hình 2.15 mô tả hộp A110 (theo phân loại của ECMA). Đây là dạng hộp cài nắp vô cùng thông dụng, được sử dụng khá rộng rãi để đóng gói hầu hết các dạng sản phẩm. Hộp có khả năng được dán hông tự động trên máy gấp dán hộp (hình 2.13), được dựng hộp, rót sản phẩm và đóng nắp trên các dây chuyền đóng gói tự động. Người ta có thể bổ sung thêm một số chi tiết đề cải tiền hỗ trợ khả năng cài khóa hộp (hình 2.16, 2.18) hoặc hỗ trợ việc xé hộp (hình 2.17)

Hình 2.19 mô tả hộp A220 (theo phân loại của ECMA). Đây là dạng hộp dán nắp vô cùng thông dụng, được sử dụng khá rộng rãi để đóng gói hầu hết các dạng sản phẩm. Hộp có khả năng được dán hông tự động trên máy gấp dán hộp (hình 2.20); hộp được dựng, rót sản phẩm và đóng nắp trên các dây chuyền đóng gói tự động (hình 2.21).

Hình dạng của nắp cài này được cải tiến hoặc bổ sung thêm một số chi tiết để hộp vẫn giữ được khả năng đóng gói và dán nắp trên dây chuyền đóng gói tự động, như nguyên mẫu của nó, đồng thời bổ sung thêm khả năng cài nắp để đóng kín hộp trong quá trình sử dụng sau khi đã mở keo dán nắp hộp (hình 2.22)

Ngoài hai dạng nắp cài tiêu chuẩn (A110) và nắp dán tiêu chuẩn (A-220) cùng một số biến thể của nó như đã trình bày ở trên, còn có một số kiểu cài, khóa nắp và đáy khác.

Hình 2.23 mô tả dạng đáy hộp cài khóa (mã đáy cài và khóa 04 – Snap lock base) và cách thức cài khóa đáy hộp.

Hình 2.24 mô tả dạng đáy hộp dán khóa (mã đáy dán và khóa 05- CrashLock base). Dạng đáy này được dán trên thiết bị gấp dán hộp tự động cùng lúc với dán hông hộp theo sơ đồ hình 2.25. Sau đó hộp sẽ được dựng lên trong dây chuyền đóng gói. Lúc này đáy hộp đã dán trước sẽ được gài chặt tự động. Đây là một kiểu đáy hộp rât tiện lợi cho các dây chuyền đóng gói, vì đáy hộp được khóa chắc và khi đóng gói bớt được công đoạn cài đáy hộp (hình 2.26).

Ngoài các kiểu nắp và đáy hộp thông dụng như đã trình bày trên các dạng hộp còn có các kiểu nắp và đáy hộp khác như các dạng nắp cài vặn xoắn tạo hình nắp đề trang trí- hình 2.27; các dạng nắp được cài chặt khi chèn và khóa các tai vào nhau – hinh 2.28; các dạng nắp cài kêt hợp công năng làm vách ngăn trong lòng hộp – hình 2.29; nắp cài kết hợp công năng làm quai xách – hình 2.30.

Các dạng hộp nhóm B

Các dạng hộp nhóm B còn được gọi là tray style, gôm các dạng hộp hình hộp chữ nhật không có các môi dán hông. Việc ghép nối các cạnh được hình thành bởi các kiểu gài khác nhau hoặc được dán ở các góc trên thiết bị gấp dán tự động. 

Dạng khay dán cơ bản là khay dán 4 góc (4 corner boxes – hình 2.31). Khay sau khi bê, sẽ được dán 4 góc trên thiết bị gấp dán hộp tự động (hình 2.32). Khay được giao hàng khi ở dạng xếp phẳng nên rất gọn và dễ vận chuyển, đồng thời khi đóng gói khay được dựng nhanh chóng trên dây chuyền đóng gói không cần các công đoạn dán hay cài hộp (hình 2.33), vì vậy chúng được sử dụng rộng rãi.

Dạng khay dán cơ bản khác là khay dán 6 góc (6 corner boxes – hình 2.34). Khác với khay dán 4 góc, khay dán 6 góc bao gồm phần đáy và nắp, hộp sau khi bê sẽ được dán 6 góc trên thiết bị gấp dán hộp tự động (hình 2.35). Hộp được giao hàng khi ở dạng xếp phăng nên rất gọn và dễ vận chuyển; đồng thời, khi đóng gói, khay được dựng nhanh chóng trên dây chuyền đóng gói không cần các công đoạn dán hay cài hộp (hình 2.36), vì vậy chúng cũng được sử dụng rộng rãi.

Dạng khay dán 4 góc có nắp (4 corner boxes with lid) cũng được dán như hộp dán 4 góc trên thiết bị gấp dán. Tuy nhiên khay có thêm nắp đóng (hình 2.37)

Ba dạng khay trên có chung đặc điểm là các góc hộp được dán trên thiết bị gấp dán hộp trước khi giao cho nhà sản xuất để đóng gói. Tuy nhiên, để đảm bảo sau khi dán khay vẫn có thể xếp thành dạng phẳng, các khay trên bắt buộc phải có các đường cấn xéo một góc 45 độ tại những góc cần dán. Chính đường gấp này làm mất tính thẩm mỹ của hộp khi trưng bày, vì vậy các nhà sản xuất thường sử dụng dạng khay 4 hoặc 6 góc (hình 2.38 và 2.39); hộp được bế và giao các mảnh bế cho nhà sản xuất hàng tiêu dùng; hộp không được dán trên thiết bị gấp dán hộp mà được dựng hộp, dán góc trên dây chuyền đóng gói (hình 2.40)

Với các dạng khay, yêu cầu chịu lực lên thành khay là rất quan trọng nên, trong các trường hợp cần thiết, người ta sử dụng các dạng khay có thành khay đôi (hình 2.41; 2.42) hoặc thành khay có cấu trúc rỗng, tạo các thành khay có bề dày lớn (hình 2.43), với các cấu trúc cài chặt khác nhau, không sử dụng phương án dán các góc khay. Hiện nay, còn có rất nhiều dạng khay thuộc nhóm B với các kiểu cài khác nhau đã được nghiên cứu và sản xuất.

Các dạng hộp nhóm C

Các dạng hộp nhóm C: cũng có dạng ống giống nhóm A, được dán nối ở cạnh hông, tuy nhiên một số mặt của hộp không phải là hình chữ nhật, có thể tạo với mặt hộp chính một góc nhọn hoặc tù.

Thân hộp nhóm C có thể là hình lăng trụ đáy tam giác, ngũ giác, lục giác hoặc bát giác, cũng có thể là hình chóp cụt, hình chóp với đáy là hình tam giác, hình chữ nhật, hình ngũ giác, hình bát giác. Tương tự như các hộp nhóm A, nắp và đáy của các hộp nhóm C cũng bao gồm các dạng cơ bản như: các dạng nắp gài, dạng đáy hộp cài khóa, dán khóa, hoặc cài xoắn tạo hình hoa trang trí, hoặc kết hợp phần nắp với tai treo, kết hợp nắp với quai xách… Các nắp và đáy của hộp thuộc nhóm C sẽ thay đổi hình dạng thích hợp với hình dạng của thân hộp và kiểu cài nắp, đáy (hình 2.44). Với một số dạng hộp nhóm C, sau khi bế cũng có thể dán hông trên thiết bị gấp dán hộp tự động nếu hộp có dạng hình lăng trụ. Riêng các dạng hộp hình chóp và hình chóp cụt việc dán hông sẽ thực hiện thủ công.

Các dạng hộp nhóm D:

Các dạng hộp nhóm D: cũng có dạng khay giống nhóm B, không có đán nối ở cạnh hông, tuy nhiên một số mặt của hộp không phải là hình chữ nhật như khay nhóm B. Các khay nhóm D có thể là hình lăng trụ đáy tam giác, ngũ giác, lục giác hoặc bát giác; cũng có thể là hình chóp cụt với đáy là hình tam giác, hình chữ nhật, hình ngũ giác, hình bát giác. Giống như các khay nhóm B, các khay nhóm D ghép nối các cạnh bởi các cách gài góc khác nhau, hoặc dán ở các góc. Các thành của khay nhóm D cũng giống khay nhóm B có dạng thành một lớp, thành hai lớp, thành có bề dày, hoặc có nắp đậy (hình 2.45).

3. Thùng carton dợn sóng

Thùng carton dợn sóng là dạng thùng giấy, với yêu cầu chịu lực cao, thường là dạng bao bì vận chuyển và được làm từ carton dợn sóng.

Thùng carton dợn sóng là một dạng bao bì, vì vậy nó có tất cả các tính năng của một bao bì thông thường:

  • Chứa đựng sản phẩm
  • Bảo vệ sản phẩm
  • Quảng cáo
  • Trình bày các thông tin về sản phẩm
  • Hiệu quả trong sử dụng
  • Tiện lợi trong sử dụng

Đối với bao bì carton dợn sóng – một dạng bao bì vận chuyển, chức năng quan trọng được quan tâm đầu tiên là khả năng chịu lực, chịu chất xếp cao. Đó cũng chính là yêu cầu thiết yếu mà khách hàng đòi hỏi các nhà cung cấp đáp ứng. Để đảm bảo tính chất chịu lực trong quá trình vận chuyển, yếu tố quan trọng cần xem xét là tấm carton dợn sóng; để đảm bảo việc đóng gói có hiệu quả, tấm carton có cấu trúc ổn định, phẳng, thích hợp.

Tấm carton dợn sóng là vật liệu ghép các lớp giấy phẳng và lớp sóng ở giữa để tạo độ cứng. Có nhiều loại sóng khác nhau có độ cao và bước sóng khác nhau: như sóng A, B, C, E, F….Các lớp phẳng và sóng kết hợp với nhau tạo thành carton 3, 5, 7 lớp.

  • Tấm carton 2 lớp: tấm carton gồm một lớp sóng và một giấy phẳng
  • Tấm carton 3 lớp: tấm carton bao gồm 1 lớp sóng và 2 lớp giấy phẳng
  • Tấm carton 5 lớp: tẩm carton gồm 2 lớp sóng và 3 lớp giấy phẳng
  • Tấm carton 7: tấm carton gồm 3 lớp sóng và 4 lớp giấy phẳng

Các mẫu thùng khá phong phú từ những dạng thùng cơ bản có hình hộp chữ nhật với nắp dán đơn giản, được định hình bằng cách cấn lằn và xẻ rãnh tấm carton dợn sóng, thuận tiện khi đóng gói trên dây chuyền tự động đến các kiểu hộp có hình thù đặc biệt với các nắp cài kết hợp với các dạng vách ngăn, từ các dạng thùng có dạng trụ ống đến các dạng hộp dạng khay nông. Để tạo thuận tiện cho việc lựa chọn kiểu dáng thùng carton dợn sóng, trong quá trình phát triển hệ thống bao bì cần tham khảo các bộ thư viện về kiểu dáng thùng carton dợn sóng.

Một trong những bộ thư viện thông dụng nhất là thư viện kiểu dáng thùng carton dợn sóng FEFCO, thư viện này được phân loại thành bảy nhóm, bao gồm:

Nhóm có mã số 02: các dạng thùng thông dụng có cấu trúc thông thường. Nó được tạo ra từ một mảnh bế, không có thêm chi tiết nào nữa, được đóng kín nhờ nắp gài. Phần ghép bên hông được dán keo, đóng ghim, hoặc dán băng keo hai mặt.

Nhóm có mã số 03: có cấu trúc phức tạp hơn nhóm 02. Nó gồm hai mảnh ghép lại. Nắp là một mảnh, đáy là một mảnh.

Nhóm có mã số 04: một phần giống nhóm 02. Nó cũng được tạo từ một mánh bế, nhưng phần hông hộp không dán keo, không đóng ghim hay dán bằng băng keo hai mặt. Nó được đóng kín bằng cách gấp, gài. Thùng nhóm này có thể có hai quai xách hay những phần bế làm quai xách.

Nhóm có mã số 05: có nhiều mảnh ghép lại với nhau. Thông thường nó có dạng ống tay áo.

Nhóm có mã số 06: dạng hộp cứng, phần nắp và đáy có chung một mảnh bế, ngoài ra các chi tiết phụ là hai mảnh bên hông và hai mảnh đó sẽ được ghép lại bằng keo hoặc đóng ghim.

Nhóm có mã số 07: dạng có một mảnh bế, đáy và hông có thể được dán keo trên các thiết bị gấp dán nên dễ dàng dựng hộp từ khổ phẳng trên dây chuyền đóng gói không cần dán đáy, rất tiện lợi cho việc đóng gói.

Nhóm có mã số 09: là dạng lót chèn trong hộp.

Đa số thùng carton là dạng thùng đơn giản, thùng hình hộp chữ nhật có các tai dán ở đáy và nắp. Tấm carton dợn sóng sau khi in được cấn lằn xẻ rãnh ngay trên máy in ở đơn vị cấn lằn, xé rãnh lắp sau các đơn vị in, các thùng này được gọi là thùng cấn lằn xẻ rãnh (RSC). Các rãnh được cắt sát phần nắp để tạo tai gấp khi đóng thùng (hình 2.53). Thùng dạng này thường có kích thước lớn, làm từ các tấm 5 lớp hoặc 7 lớp với các sóng trung bình và lớn, nhằm tạo cấu trúc vững chắc bảo vệ các sản phẩm có kích thước lớn ở bên trong như tivi, tủ lạnh, máy giặt…. Sau khi cấn lắn xẻ rãnh, thùng được ghép mí bằng cách dán keo hoặc đóng ghim thép tại mối nối. Keo tạo cho mối nối được chắc chắn và có thể thực hiện với tốc độ cao. Đóng ghim thường không dùng trong bao bì thực phẩm hoặc trong các phân xưởng thực phẩm.

Một dạng hộp carton dợn sóng khác là các dạng khay rất tiện lợi trong việc nâng và vận chuyển (hình 2.54). Dạng hộp khay chữ U giữ cho các hộp chồng lên nhau vững chắc, có thể dùng kết hợp khay và vỏ bọc màng co. Các dạng khay có nhiều kiểu dáng khác nhau với các khóa cài góc khác nhau. Giống như các dạng khay làm từ giấy bìa các dạng khay carton dợn sóng cũng có nhiều kiểu dáng khác nhau, nhiều kiểu cài khác nhau, thành hộp đơn hoặc đôi.

Một số thiết kế đặc biệt là bao bì liên khối. Ví dụ bao bì sáu chai rượu (hình 2.55)

Một chi tiết rất quan trọng của thùng carton dợn sóng là các vách ngăn hoặc chèn lót trong thùng.

Với các sản phẩm to lớn, nặng và cồng kềnh, đặc biệt trong các ngành máy móc, hóa chất đòi hỏi bao bì carton dợn sóng phải được kết hợp với các vật liệu khác như bọt nhựa, hợp chất nhựa, gỗ dán hoặc gỗ xây dựng để tăng độ chắc chắn của bao bì.

Tấm carton dợn sóng sau khi in được định hình bằng cách cấn lằn xẻ rãnh trên máy in hoặc cân bê hộp trên thiết bị cân bê. Tấm carton dợn sóng có thế được in trực tiếp lên tâm bằng phương pháp in flexo, in lụa hoặc in bằng phương pháp in offset tờ rời một tờ in trên giấy bìa, tờ in sau đó được bồi lên tấm carton dợn sóng.

4. Túi giấy

Do các quy định ngày càng nghiêm ngặt của việc bảo vệ môi trường, trong các cửa hàng, túi giây là một giải pháp kinh tê thay thê túi nhựa. Sau đây là các dạng túi giấy thường gặp

4.1. Flat bags (túi phẳng)

Đây là dạng cơ bản nhất của túi giấy. Phần lớn những cái túi này được làm từ loại giấy gói hàng loại dày (kraft) màu nâu hoặc màu trắng. Dạng túi phẳng đáy không có bề dày và không có các nếp xếp hông.

Túi loại này có ứng dụng hạn chế, hầu như chỉ sử dụng ở những điểm bán lẻ. Thích hợp để đựng rau quả, bánh mứt, bánh kẹo, bánh mì, thuốc uống và đồ sắt.

4.2. Satchel bags -túi có gấp góc

Dạng túi này được làm tương tự như túi phẳng (flat bag), nhưng được gấp ở hai bên hông thành các vạch gấp hông, không có bề dày đáy.

Satchel bags thuận lợi hơn túi phẳng khi mở ra và dễ cầm hơn so với túi phẳng.

Chúng được sử dụng ở những điểm bán lẻ cũng giống như túi phẳng. Vì túi satchel không đứng được nên có những hạn chế khi sử dụng trong các nhà máy đóng gói thực phẩm chế biến sẵn và những sản phẩm khác. Hầu hết những túi satchel được làm từ giấy kraft có thể được tráng phủ hoặc có thể thêm vào bên trong một lớp chất liệu bảo vệ khi cần, ví dụ với những sản phẩm nóng hoặc có dính mỡ: bánh mì, snack nóng…

4.3. Self – openning satchel bags (SOS bags)

SOS bag là sản phẩm có đáy đứng và nếp gấp hông có thể có quai xách, không quai xách, dạng đóng hoặc mở.

5. Nhãn hàng hóa

Nhãn hàng cũng là một thành tô của bao bì. Nhãn hàng thường được dán lên các chai lọ nhựa hoặc chai thủy tinh băng keo dán trên dây chuyền dán nhãn, hoặc sử dụng nhãn tự dính là loại nhãn được in trên decal – một vật liệu có phủ sẵn keo ở mặt sau.

Nhãn có thể in trên vật liệu giấy, nhựa, hoặc vật liệu decal. Sau khi in, thường là in offset tờ rời, nhãn giấy có thể được cắt thành các xâp nhãn nêu nhãn có hình chữ nhật, hoặc được cắt và bế thụt theo từng xấp, nêu nhãn có hình dạng đặc biệt (hình 2.59). Nhãn giây được  giao hàng theo từng xấp và được dán bằng keo dán trên các dây chuyền dán nhãn từng nhãn một.

Nhãn nhựa thường được in trên máy in flexo cuộn khổ nhỏ, hoặc in ống đồng. Cuộn sau khi in, sẽ được chia thành cuộn nhỏ, giao cho khách hàng. Cuộn sẽ được cắt thành từng nhãn và dán vào chai trên dây chuyền đóng gói tự động bằng các loại keo tương thích với bề mặt cần dán, hoặc xử lý căng với nhãn sử dụng màng căng, hay xử lý co với nhãn sử dụng màng co.

Nhãn tự dính thường được in trên các thiết bị in flexo cuộn khổ nhỏ và bê nhãn ngay trên máy in ở đơn vị bê đặt sau các đơn vị in. Nhãn chi được bê đứt lớp giây bê mặt theo hình dạng nhãn, sau đó phân rìa sẽ được gỡ bỏ (hình 2.60). Phần nhãn trên cuộn đã bế và gỡ bỏ rìa sẽ được tách và dán vào chai trên dây chuyền đóng gói tự động.

Ngoài ra, hiện nay còn có rất nhiều dạng nhãn đặc biệt được phát triển như:

  • Nhãn đa lớp (hình2.61): có khả năng tăng thêm phần diện tích in để cung cấp thông tin về sản phẩm
  • Nhãn dạng cuốn sách nhỏ (hình 2.62)
  • Nhãn thông minh có gắn RFID chứa các thông tin về sản phẩm, hỗ trợ chống giả và quản lý từng sản phẩm.
  • Nhãn dán hỗ trợ đóng mở nhiều lần.
Nhãn RFID (Ảnh: chiprfid.vn)

Qua bài viết này, chúng ta đã cùng tìm hiểu về các loại bao bì, từ quy trình sản xuất tinh vi đến những ứng dụng đa dạng trong đời sống. Việc lựa chọn đúng loại bao bì không chỉ giúp bảo quản sản phẩm tốt hơn mà còn tạo nên sự khác biệt và giá trị cho thương hiệu. Hiểu rõ và sử dụng hiệu quả các loại bao bì sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và trải nghiệm của người tiêu dùng.

Tài liệu tham khảo

“Giáo trình thiết kế và sản xuất bao bì”, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Lại Giang – Trần Thanh Hà.

——————

🌟 Về Công ty TNHH Nhân Gia Hào, chúng tôi tự hào là một trong những đơn vị uy tín và tin cậy trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp các loại bao bì, vật tư đóng gói chất lượng cao, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng từ các ngành công nghiệp khác nhau. Với hơn 10 năm kinh nghiệm, chúng tôi đã xây dựng được niềm tin và uy tín từ khách hàng.

🌟 THÔNG TIN LIÊN HỆ:

CÔNG TY TNHH NHÂN GIA HÀO

☎️ Hotline: 0329 797979 hoặc 0274.396.9672

🌐 Website: Nhangiahao.vn

📍 Địa chỉ xưởng: Số 17/20, Khu phố Bình Phước A, P. Bình Chuẩn, TP. Thuận An, T. Bình Dương.