Bao bì mềm và những đặc tính quan trọng của vật liệu bao bì mềm

Giới thiệu

Bao bì mềm là một trong những loại bao bì phổ biến và được ưa chuộng nhất hiện nay. Với sự đa dạng về chất liệu và tính năng, bao bì mềm đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau từ việc bảo quản thực phẩm đến đóng gói sản phẩm công nghiệp. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về những đặc tính quan trọng của bao bì mềm, đặc biệt là các đặc tính của chất dẻo, vật liệu chính được sử dụng trong bao bì mềm.

Những đặc tính quan trọng của bao bì mềm

Đối với bao bì mềm, chất dẻo đã trở thành vật liệu chủ đạo. Để bao bì mềm đạt được những đặc tính mong muốn, việc nghiên cứu tính chất của màng chất dẻo trong các điều kiện sử dụng dự đoán trước là cần thiết.

Khi lựa chọn màng làm vật liệu bao bì, các đặc tính quan trọng nhất của chất dẻo cần xem xét bao gồm: tính chất cơ lý, tính chất nhiệt, khả năng ngăn cản và tính chất bề mặt.

1. Các đặc tính về nhiệt

Màng dùng trong bao bì mềm là loại nhựa nhiệt dẻo, nhựa nhiệt dẻo là vật liệu mềm khi bị đốt nóng và một số tính chất của màng thay đổi khi thay đổi điều kiện nhiệt độ. Tính chất nhiệt của từng loại màng ảnh hưởng rất lớn đến các tính chất khác của chúng, và ảnh hưởng đến quá trình tạo màng (quá trình đun chảy, đóng rắn màng), quá trình sản xuất (quá trình ghép màng, hàn nhiệt) và sử dụng bao bì (sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình sử dụng). Vì vậy khi cần lựa chọn vật liệu cho bao bì mềm, tính chất nhiệt là tính chất quan trọng cần xem xét.

1.1. Nhiệt độ thủy tinh hóa (Tg) và nhiệt độ hóa lỏng của vật liệu (Tm)

Tinh chất của nhựa nhiệt dẻo thay đổi không chỉ tùy theo loại vật liệu mà còn thay đổi tùy vào các cấu trúc kết tinh của mảng. Nhựa nhiệt dẻo của các polymer có các cấu trúc vô định hình, kết tinh và bản kết tinh.

Cấu trúc polymer vô định hình có chứa các mạch cuộn xoắn ngẫu nhiên. Cấu trúc kết tinh là vùng ở đó các mạch polymer sắp xếp theo một chuỗi có trật tự. Những vùng kết tinh này nằm bên trong nền polymer vô định hình tạo các cấu trúc bán kết tinh.

Cả hai cấu trúc vô định hình và kết tinh đều ở trạng thái thủy tinh (rắn) ở nhiệt độ thấp và cả hai chuyển từ trạng thái thủy tinh sang trạng thái đản hồi hoặc mềm dẻo khi nhiệt độ tăng. Sự thay đổi từ trạng thái thủy tinh sang trạng thái đàn hồi thường xảy ra trong khoảng khả hẹp (20 tới 5), và điểm chuyển pha này gọi là nhiệt độ thủy tinh hóa (Glass transition temperature Tg). Với polymer, nhiệt độ thủy tinh hóa là một đặc tính quan trọng.

Ở nhiệt độ cao hơn Tg, các polymer vô định hình có các tính chất khác với polymer kết tinh. Khi tăng nhiệt độ của polymer vô định hình, pha đàn hồi chuyển từ tử sang pha mềm dẻo, kế đó thành dạng keo dính và cuối cùng hóa lỏng. Không có sự chuyển pha rõ ràng, chỉ là sự thay đổi dần tính chất.

Trái lại, các polymer kết tinh vẫn còn ở trạng thái đàn hồi mềm dẻo khi nhiệt độ cao hơn nhiệt độ thủy tinh hóa, cho tới nhiệt độ nóng chảy Tm thì polymer kết tinh bắt đầu hóa lỏng…

Các cấu trúc vô định hình, kết tinh là đặc trưng của polymer mạch thẳng và mạch nhánh. Nói chung, các đặc tính này không có ở polymer có cấu trúc mạng không gian.

Nhiệt độ thủy tinh hóa, nhiệt độ nóng chảy của polymer là các thông số rất quan trọng trong quá trình tạo mảng, còn mức độ kết tinh của polymer chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cách thức thay đổi nhiệt độ từ nhiệt độ nóng chảy xuống nhiệt độ thủy tinh hóa trong quá trình tạo mảng. Nếu đột ngột giảm nhiệt độ, cấu trúc vô định hình cao; nếu nhiệt độ giảm chậm, cấu trúc kết tinh lớn.

Ngoài ra, cấu trúc kết tinh ảnh hưởng lớn đến độ trong, độ mềm dẻo, độ cứng của mảng.

1.2. Chỉ số chảy

Chỉ số chảy là tốc độ chảy của nhựa nhiệt dẻo ở nhiệt độ cho sẵn dưới áp suất đặc biệt và qua khe đặc biệt trong khoảng thời gian cho sẵn. Chỉ số chảy biểu diễn lượng nhựa chảy qua khe tính bằng: g/10phút.

1.3. Tính chất hàn nhiệt

Phương pháp chủ yếu dùng để hàn kín, đảm bảo khả năng chứa đựng sản phẩm bên trong của bao bì mềm là hàn nhiệt. Mỗi vật liệu có khả năng hàn nhiệt và độ bền mối hàn khác nhau. Các tính chất hàn nhiệt bị ảnh hưởng bởi tính lưu biến và tính chất nhiệt của polymer.

Độ bền hàn nhiệt biểu diễn lực cần để tách hai bề mặt đã hàn bằng nhiệt ra khỏi nhau theo hướng vuông góc.

Một tính chất quan trọng về khả năng hản nhiệt là độ bền của mối hàn khi còn nóng. Độ bền khi còn nóng là rất quan trọng đối với các máy hản nhiệt, nạp liệu dạng thẳng đứng (VFFS=vertical form-fill-seal) bởi vì mối hàn phải chịu một lực tải của sản phẩm đặt vào.

Polyethylene có lực bền hàn nhiệt rất cao và cellophane thì có giá trị này thấp hơn nhiều. Đôi khi mối liên kết hàn nhiệt mạnh là không cần thiết chẳng hạn túi đựng kẹo, khoai tây chiên…

1.4. Độ ổn định của màng khi thay đổi nhiệt độ

Độ ổn định này có thể được miêu tả như là khả năng chịu được sự thay đổi nhiệt độ mà không mất đi những tính chất chủ yếu.

Trong vòng đời của mình, màng bao bì chịu nhiều tác động của nhiệt độ như: chứa đựng các thực phẩm nóng, các quá trình khử trùng cho thực phẩm và hàn nhiệt. Độ bền về kích thước của màng phải được duy trì dưới tác động của sự thay đổi này. Một số trường hợp khác có các yêu cầu ngược lại như với các yêu cầu của bao bì mảng co, hoặc màng căng.

Một số tính chất khác được xét đến là màng nhựa có trở nên dòn khi chịu nhiệt độ thấp hay không. Điều này rất quan trọng đối với bao bì của thực phẩm đông lạnh (về mặt này polyethylene tốt hơn cellophane).

2. Đặc tính cơ lý

2.1. Độ bền kéo căng (tensile strength)

Độ bền kéo căng (được biết như là ứng suất căng) cung cấp các dữ liệu về khả năng chịu tác dụng lực tải của màng, biểu diễn lực bẻ gãy vật liệu trong một diện tích.

Ứng suất căng (tensile stress) của vật liệu được định nghĩa là lực kéo căng trên một đơn vị diện tích. Đơn vị do ứng suất căng (N/m3)

Đơn vị đo độ bền kéo căng là Pascal hoặc psi (pound per square inch).

1 Mpa = 145 psi.

Độ bền kéo căng được đo trên một máy đo vạn năng. Máy đo này kéo các cạnh của mẫu hình chữ nhật theo các hướng đối diện đến khi nó đứt gãy. Các kẹp dạng trục lăn đặc biệt được sử dụng để giữ các mảng mỏng. Các mẫu mảng được kiểm tra cắt theo cả hướng máy và hướng ngang (MD và CD). Trong quá trình kiểm tra, một bộ phận đo lực tác động lên mảng suốt quá trình kéo căng. Độ bền kéo căng được báo cáo là lực/ diện tích mặt cắt ngang (tiết diện của màng) ứng với mẫu kiểm tra.

Độ bền kéo căng của mảng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:

  • Loại vật liệu để tạo ra màng. Các loại polymer khác nhau có độ bền khác nhau.
  • Các chất phụ gia và chất độn trong mảng polymer. Một vài chất phụ gia như sợi thủy tinh được đưa vào để gia cường (tăng thêm độ bền) cho mảng.
  • Chế độ, điều kiện gia công (nhiệt độ, tốc độ quay của vít, cùng với cách làm lạnh màng khi tạo mảng polymer).
  • Hướng ngang và hướng máy (CD và MD) ảnh hưởng mạnh đến sự định hướng polymer, từ đó ảnh hưởng tới các tính chất kéo căng.

Màng polyester hoặc polypropylen định hướng có giá trị lực bền kéo căng cao, thường là trên 400 kp/cm2. Cellophane có thể đạt đến giá trị trên 600kp/cm2 nhưng với polyethylen mật độ thấp (LDPE) thì giá trị này nằm giữa 100kp/cm2  và 200kp/cm2

Dưới đây là bảng các tính chất cơ nhiệt của 1 số màng thông dụng

Để kiểm tra các tính chất kéo căng thường kiểm tra theo chuẩn ASTM D882 và đơn vị đo độ bền kéo căng Mpa.

2.2. Độ giãn dài (elongation) ASTM D882

Một tính chất kéo căng khác cũng được đo giống như độ bền kéo căng theo chuẩn ASTM D882 là độ giãn dài. Tính chất này mô tả khả năng bị kéo căng của màng trước khi đứt gãy hoặc chảy. Đơn vị đo độ giãn dài là %, độ giãn dài được tính bằng cách lấy chiều dài kéo căng mẫu đạt được tại điểm đứt gãy hoặc điểm chảy chia cho chiều dài ban đầu của mẫu rồi nhân với 100.

Cũng giống như độ bền kéo căng, độ giãn dài phụ thuộc nhiều vào loại vật liệu, các điều kiện đùn gia công, các điều kiện kiểm tra kéo căng và sự định hướng của màng. Mặc dù quá trình định hướng màng cho độ bên kéo căng cao hơn nhưng nó thường cho kết quả là độ giãn dài thấp hơn.

2.3. Độ bền xé rách (tear strength)

Độ bền xé rách là lực làm rách màng ở tốc độ xé xác định, được tính bằng N hoặc Lbs. Độ bền xé rách là một tính chất quan trọng để đo chất lượng màng.

Độ chống xé rách là một yêu cầu quan trọng đối với các màng nhựa ứng dụng trong bao bì mềm. Trong quá trình tạo màng, việc định hướng của màng ảnh hưởng đáng kể đến độ bền xé rách. Vì vậy, kết quả kiểm tra độ bền xé rách của màng sẽ chuyển trở lại cho nhân viên đứng máy đùn, để thay đổi điều kiện gia công nhằm tăng độ bền xé rách cho màng.

Có một vài phương pháp đo độ bền xé rách của màng. Phương pháp phổ biến nhất được sử dụng để đo độ bền xé rách của màng là sử dụng một thiết bị con lắc để đo độ kháng xé rách lan rộng (ASTM D1922). Dụng cụ được sử dụng như hình 3.2, mẫu đem kiểm tra phải được xẻ khe rãnh ở biên và được kẹp trên một con lắc, còn con lắc còn lại ở trạng thái cố định. Khi nhả ra, con lắc (dưới tác dụng của trọng lực) sẽ chuyển động theo hình vòng cung xé rách mẫu kiểm tra từ khe xẻ rãnh ban đầu.

Đối với một vài loại bao bì, tính chịu xé thấp trở nên có lợi (ví dụ túi khoai tây chiên).

Polyethylene có lực bền xé rách cao trong khi cellulose acetate và màng polyester có giá trị này thấp.

2.4. Độ bền va đập (impact strength)

Là tính chất đặc biệt có cần thiết khi đóng gói sản phẩm nặng trong màng nhựa, khi chúng phải chịu va đập trong quá trình vận chuyển.

2.5. Sự phục hồi ứng suất (stress relaxation)

Sự phục hồi ứng suất được định nghĩa như là sự thay đổi ứng suất khi vật liệu đặt dưới độ biến dạng không đổi.

Khi một màng bao bì bị kéo căng do quá trình chứa đựng các sản phẩm, độ đàn hồi của màng sẽ giữ các sản phẩm dưới sức căng không đổi để bảo vệ, giúp dễ dàng giữ và vận chuyển sản phẩm. Khi sự phục hồi ứng suất xảy ra, sức căng bao bì sẽ mất. Sự phục hồi ứng suất có thể được đo với một dụng cụ kiểm tra ứng suất tiêu chuẩn, tại đó ứng suất được đo tại một số thời điểm, khi mẫu vật được giữ dưới độ biến dạng không đổi. Do sự phục hồi ứng suất theo ASTM D2991.

Có hai loại thiết bị chính để kiểm tra sự phục hồi ứng suất của vật liệu có sẵn trên thị trường hiện nay: đo liên tục, đo gián đoạn.

2.6. Độ rão (Creep)

Độ rão là sự thay đổi độ biến dạng khi mẫu vật chịu tác động bởi một ứng suất không đổi.

Các màng polyolefin bị tác dụng bởi áp lực trong một khoảng thời gian dài sẽ dần dần bị kéo dãn. Áp lực được tạo ra bên trong bao bì là nguyên nhân làm cho bao bì trở nên lớn hơn và polymer sẽ rão.

3. Tính chất ngăn cản

Các màng nhựa được sử dụng để bao bọc và bảo vệ các sản phẩm khác như: thực phẩm, các loại trà, cà phê, ngũ cốc…Trong một số trường hợp sản phẩm sinh khí hoặc có yêu cầu đặc biệt cần cung cấp khí như:

Cà phê sống sinh ra khí CO₂ mà khí này cần được thoát ra khỏi vật chứa, nếu không, khí này có thể gây bục vỡ do áp suất nội. Mặt khác, khí O₂ làm cà phê cũ đi và trong trường hợp này, khí cần được ngăn không thấm vào trong, do đó cần chọn lựa vật liệu có tính thấm khí O₂ thấp nhưng thấm khí CO₂  cao.

Một ví dụ khác cần tốc độ truyền khí O₂ cao, là trường hợp đóng gói thịt tươi, và thịt cần O₂  để giữ được màu đỏ tươi hấp dẫn khách hàng.

Vì vậy khi chọn màng làm vật liệu bao bì, một tính chất quan trọng của màng được xét đến là sự chống thấm (hay ngăn cản) khí, đặc biệt là chống thấm O₂, CO₂, hơi nước và chống thấm mỡ.

Khả năng ngăn cản khí được gọi một cách khác là chống sự xuyên thấm của các phân tử khí qua bao bì. Các phân tử có thể di chuyển từ bên ngoài vào bên trong bao bì hoặc ngược lại. Quá trình xuyên thấm diễn ra bởi vì sự chênh lệch về nồng độ hoặc áp suất, nhiệt độ và độ ẩm tương đối.

Đối với các màng có cấu trúc vô định hình thì sự thấm khí diễn ra dễ dàng, các polymer có cấu trúc tinh thể càng cao thì có khả năng chống thấm khí càng cao.

3.1. Khả năng thấm khí

Khả năng thấm khí của màng được tính như sau:


Với cm3 là đơn vị của khí khuếch tán qua màng, mil là đơn vị độ dày của màng, 100 in2 là diện tích của màng đem kiểm tra tính thẩm thấu khí, atm là áp suất khí quyển.

Đơn vị đo độ thấm khí qua màng là cm3/m2/24h.

Các cách thức xác định tỷ lệ truyền khí (GTR = gas transmission rate) và hệ số xuyên thấm thực hiện theo theo chuẩn ASTM D1434.

3.2. Khả năng thấm hơi nước

Đây cũng là yếu tố quan trọng cần xác định khi sản phẩm cần đóng gói có yêu cầu về độ kháng ẩm. Một vài sản phẩm cần được bảo vệ khỏi không khí ẩm từ phía ngoài như mì gói, khoai tây chiên, một vài sản phẩm khác thì đòi hỏi phía bên trong không được phép bốc hơi xuyên qua bao bì.

Độ xuyên thấm hơi nước (water vapour permeability) là tỷ lệ truyền hơi nước qua đơn vị diện tích vật liệu phẳng, ứng với đơn vị độ dày trong 24 giờ.

Đơn vị tính: g/m2/24h hoặc g/100in2 /24h

3.3. Tính thấm dầu và mỡ

Rát quan trọng khi sản phẩm cần đóng gói chứa chất béo. Bề mặt bao bì có thể bị làm hỏng nếu như chất béo thấm qua màng bao bì ra ngoài.

Để xác định tính thấm béo người ta đặt một đống cát mịn được bão hòa bằng một lượng xác định dầu hoặc dầu thông, đặt mẫu thử lên trên và trên cùng đặt một miếng giấy thấm. Ghi lại thời gian cần để dầu thấm qua và để lại dấu vết trên giấy.

4. Tính chất bề mặt (tính chất liên quan đến khả năng in ấn)

4.1. Độ bóng (Gloss)

Độ bóng là sự phản xạ của ánh sáng từ một bề mặt. Độ bóng cao khi bề mặt phẳng. Sự không đồng nhất bề mặt được tạo ra do quá trình gia công sẽ làm giảm sự phản xạ ánh sáng dẫn đến việc giảm độ bóng của màng.

Đơn vị đo độ bóng: % độ sáng phản chiếu ở các góc chiếu sáng đặc biệt khác nhau.

Màng thổi thường có độ bóng thấp hơn màng đúc bởi vì sự kết tinh của màng tạo các tinh thể với bề mặt gồ ghề. Sự kết tinh nhanh của màng do việc thổi không khí làm lạnh sẽ làm giảm kích thước của tinh thể và cải thiện độ bóng.

Đối với phương pháp tạo màng đúc, màng sau khi ra khỏi đầu khuôn tạo màng sẽ được đi qua các trục làm lạnh. Sự làm lạnh nhanh và độ bóng bề mặt của các trục tạo ra độ bóng cao trên bề mặt của màng. Các màng đúc có độ bóng cao hơn so với các màng thổi nhưng màng thổi có giá thành thấp hơn.

Đo độ bóng được thực hiện theo chuẩn ASTM D523 với một dụng cụ được gọi là Glossmeter. Dụng cụ này có chứa một nguồn sáng và một ống trực chuẩn để tạo ra chùm sáng song song tiến tới bề mặt của mẫu cần kiểm tra với một góc tới i. Ánh sáng phản xạ với một góc r bằng với i được đo bằng một đầu dò quang học.

Độ bóng được tính theo công thức sau:

Gloss (%) = (Ir/Ii) x 100, với Ir là ánh sáng phản xạ, Ii ánh sáng tới.

Góc tới 20° sử dụng cho bề mặt có độ bóng cao.

Góc tới 600 sử dụng cho bề mặt có độ bóng trung bình.

Góc tới 85° sử dụng cho bề mặt mờ.

Góc tới 7500 sử dụng trong ngành công nghiệp giấy.

4.2. Độ đục (haze)

Độ đục là một tính chất bên trong của vật liệu nhưng nó có liên quan tới tính xuyên thấu (hay độ trong) và độ bóng nên ta xét nó cùng với các tính chất bề mặt.

Đơn vị đo độ đục: % lượng ánh sáng khuếch tán trong màng. Độ kết tinh, các sai hỏng quang học, các chất bẩn, sự kết dính các hạt và sự phân tán của các màu sắc là các nguyên nhân làm tăng độ đục. Độ đục là sự tán xạ của ánh sáng bên trong vật liệu. Độ đục gây cản trở cho việc nhìn thấy rõ các vật chất xuyên qua màng. Các tinh thể nhỏ hơn sẽ làm giảm độ đục.

4.3. Độ trong suốt (Transparency)

Độ đục, độ bóng, độ trong của một số màng thường gặp:

MàngĐộ đục (%)Độ bóngĐộ trong (%) so với thủy tinh 92%
LDPE67565
LLDPE67565
HDPE378
OPP38580
OPS115092
PVC115090
Nylon 64.5
Nylon 6 Biax32088
Cellophane-Polymer19090

Một màng có độ trong tốt khi mà ta có thể nhìn thấy rõ các vật nằm phía bên kia màng, điều này tương phản với các màng mờ cho phép ánh sáng truyền qua nhưng không thể nhìn thấy rõ các vật bên trong.

Đơn vị đo độ trong: % lượng ánh sáng xuyên qua màng.

Độ trong của màng phụ thuộc nhiều vào mức độ kết tinh của polymer. Trong quá trình tạo màng nếu ta gia tăng tốc độ làm lạnh cho màng sẽ làm giảm độ kết tinh và sẽ cải thiện được độ trong của màng.

ASTM D1746 là chuẩn đo độ trong. Tại vị trí ánh sáng tới trên mẫu kiểm tra theo một hướng thẳng đứng. Ánh sáng xuyên qua với một góc hẹp (<0.1) được đo thông qua một đầu dò quang học. Độ trong được định nghĩa là tỷ số của cường độ ánh sáng chiếu xuyên qua mẫu vật kiểm tra so với cường độ ánh sáng ban đầu, hoặc phần trăm tương ứng.

4.4. Năng lượng bề mặt (surface energy)

Các hạt nằm bên trong tinh thể sẽ liên kết bão hòa với các hạt xung quanh, còn các hạt nằm trên bề mặt của tinh thể không thể bão hòa về mọi phía, vì thế trên bề mặt xuất hiện một năng lượng ngưng tụ gọi là năng lượng mặt ngoài hay năng lượng bề mặt.

Đơn vị đo năng lượng bề mặt: dynes/cm hoặc ergs/cm2 hoặc J/m2 hoặc N/m. Trong hệ đo lường quốc tế, năng lượng bề mặt được đo bằng N/m.

Các loại nhựa có năng lượng bề mặt thấp như: Polypropylene (PP), polyethylene (PE) (thường từ 30 tới 32 dynes/cm) và Teflon (PTFE) là các loại nhựa không kết dính với nhau và không kết dính với các loại vật liệu khác nếu chưa được xử lý. Điều này ngăn chặn quá trình in và sự bám dính của mực.

Phương pháp thường để xác định năng lượng bề mặt là đo góc thấm ướt của một giọt nước trên bề mặt vật liệu.

Điều kiện thấm ướt tốt giữa màng và các dung môi: Góc thấm ướt lớn hơn 90° chỉ ra rằng chất lỏng sẽ không thấm ướt bề mặt (gây khó khăn cho quá trình in và ghép màng). Ngược lại, góc thấm ướt nhỏ hơn 90° có nghĩa rằng chất lỏng thấm ướt bề mặt, nếu góc thấm ướt tiến dần tới 0° thì bề mặt có khả năng thấm ướt chất lỏng hoàn toàn.

Sức căng bề mặt của một số màng thường gặp:

MàngSức căng bề mặt (dynes/cm)
PP, OPP, BOPP29-31
PE30-31
PS38
PA< 36
PVC39
PET41-44

Để thấm ướt tốt (không gây khó khăn cho quá trình in và ghép màng), năng lượng bề mặt của nhựa cần cao hơn sức căng bề mặt của chất lỏng hoặc dung môi từ 7 tới 10 dynes/cm.

Một phương pháp đo năng lượng bề mặt mới là Wetting Tension Test (ASTM D-2578). Với phương pháp kiểm tra này, một dãy các dung dịch có sức căng bề mặt tăng dần được nhỏ lên bề mặt đã được xử lý đến khi tìm được một chất lỏng thấm ướt bề mặt.

4.5. Độ trượt (slip)

Là tính ma sát xuất hiện khi màng nhựa tiếp xúc bề mặt với loại màng khác hoặc với một bộ phận của thiết bị nào đó.

Giá trị này có thể được đo bằng cách dùng bàn nghiêng, ghi nhận lại góc độ nghiêng mà với giá trị này mẫu thử vượt qua được ma sát bề mặt.

Các màng polyolefin nói chung có bề mặt nhẵn, chúng có năng lượng bề mặt thấp và vì thế lực ma sát cũng thấp. Lực ma sát có thể là nguyên nhân gây phá hủy các màng. Các chất phụ gia trượt có thể làm giảm lực ma sát. Có một vài tác nhân làm giảm độ trượt như: độ bám dính của lớp màng mực in, verni hay độ bám dính của các bề mặt khác; bao bì. Các chất phụ gia làm tăng độ tự bám dính của các màng bao bì (để tăng khả năng bám mực in) sẽ làm giảm độ trượt tăng ma sát và gây hỏng lớp bề mặt bao bì.

4.6. Độ kết chặt (blocking)

Năng lượng bề mặt thấp và độ mềm dẻo của các màng polymer làm chúng tự kết dính với nhau dưới một lực ép, nếu lực ép tác động trong một khoảng thời gian đáng kể. Độ tự bám dính này được gọi là độ kết chặt (blocking).

Các polyolefin có thể chảy hoặc biến dạng dưới lực ép và vì thế sự bám dính vào nhau có thể xuất hiện nếu đủ áp lực hoặc thời gian tiếp xúc dài. Đây là một vấn đề quan trọng đối với các cuộn màng lớn khi màng được xếp chồng lên nhau với số lượng lớn.

Độ kết chặt tăng với các màng có bề mặt phẳng, trong khi đó các yêu cầu khác của bao bì cần bề mặt phẳng với độ bóng và độ trong cao; lúc này sự kết chặt xảy ra và đây là một vấn đề nghiêm trọng.

Kết luận

Bao bì mềm với các đặc tính về nhiệt, cơ lý, ngăn cản và bề mặt đóng vai trò quan trọng trong việc bảo quản và đóng gói sản phẩm. Việc lựa chọn vật liệu phù hợp sẽ đảm bảo hiệu quả và chất lượng của bao bì.

Tài liệu tham khảo

“Giáo trình thiết kế và sản xuất bao bì”, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Lại Giang – Trần Thanh Hà.

——————

🌟 Về Công ty TNHH Nhân Gia Hào, chúng tôi tự hào là một trong những đơn vị uy tín và tin cậy trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp các loại bao bì, vật tư đóng gói chất lượng cao, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng từ các ngành công nghiệp khác nhau. Với hơn 10 năm kinh nghiệm, chúng tôi đã xây dựng được niềm tin và uy tín từ khách hàng.

🌟 THÔNG TIN LIÊN HỆ:

CÔNG TY TNHH NHÂN GIA HÀO

☎️ Hotline: 0329 797979 hoặc 0274.396.9672

🌐 Website: Nhangiahao.vn

📍 Địa chỉ xưởng: Số 17/20, Khu phố Bình Phước A, P. Bình Chuẩn, TP. Thuận An, T. Bình Dương.